University of Medicine and Pharmacy, HCMC

Center for Molecular Biomedicine

XÉT NGHIỆM ĐỘT BIẾN GEN SCN1A TRONG CÁC BỆNH NHÂN ĐỘNG KINH VÔ CĂN NHẠY SỐT

I.             Mục đích xét nghiệm 


Hướng dẫn lựa chọn thuốc chống động kinh trong điều trị cho các bênh nhân có được chẩn đoán động kinh vô căn nhạy sốt


II.           Thông tin chung


Ðộng kinh là thuật ngữ để chỉ rối loạn thần kinh mạn tính trong đó người bệnh bị tái phát các cơn động kinh không yếu tố khởi phát, ảnh hưởng đến sinh học thần kinh, nhận thức, tâm lý và xã hội. Trong thực hành, thuật ngữ này được sử dụng khi người bệnh đã bị ít nhất từ hai con động kinh trở lên. Trạng thái động kinh được định nghĩa là hoạt động động kinh tồn tại trong 30 phút hoặc dài hơn, gồm thể kéo dài liên tục và thể từng cơn nhưng giữa các cơn không phục hồi ý thức.


Bệnh khởi phát ở mọi lứa tuổi nhưng thường gặp ở các lứa tuổi: 0 – 2 tuổi, 5– 7 tuổi, tuổi dậy thì và người cao tuổi. Trong đó, cơn động kinh cục bộ phức tạp thường chiếm khoảng 40% trong các loại động kinh ở người lớn, cơn cục bộ đơn giản chiếm khoảng 20%, cơn toàn thể hóa nguyên phát với 20% cơn co cứng, 10% cơn vắng ý thức và các loại con khác khoảng 10%. Ở trẻ em, cơn vắng ý thức chiếm tỷ lệ lớn hơn.

 

Nguyên nhân của động kinh được chia thành 4 nhóm: 

-       Tự phát (idiopathic) – nguyên nhân di truyền đơn gen (ADNFLE, GEFS+, SMEI, …) hoặc vấn đề di truyền phức tạp.

-       Triệu chứng (symptomatic) – do đáp ứng (động kinh thứ phát) gồm chấn thương sọ não, chấn thương lúc ra đời, tai biến mạch máu não,viêm màng não – viêm não do vi khuẩn, virus, lao, nấm, ký sinh trùng (cysticercosis)…

-       Có yếu tố khởi phát (provoked) – do các nhân tố khởi phát như dùng thuốc quá liều, cai thuốc an thần, thiếu máu não toàn bộ do ngừng tim, tăng thân nhiệt, hay thành phản xạ động kinh (reflex epilepsy) bởi nhạy sáng, nước nóng, … Ðây là động kinh không di truyền. 

-       Nguyên nhân ẩn (cryptogenic) – không xác định được nguyên nhân, gặp ở hon 40% bệnh nhân và xảy ra ở hầu hết trẻ em và thanh thiếu niên bị các con động kinh.

Gen SCN1A nằm trong cụm 3 gen mã hóa các kênh natri, cùng với 2 gen khác là SCN2ASCN3A, trên doạn nhiễm sắc thể 2q24. Các đột biến trên SCN1A có thể gây ra nhiều kiểu hình động kinh, từ dạng rất nặng như hội chứng Dravet (SMEI) cho dến dạng nhẹ trong hội chứng sốt cao co giật cộng (GEFS+). Hầu hết các đột biến SCN1A có liên quan GEFS+ là đột biến sai nghĩa  có thể làm giảm hay tăng chức năng kênh natri, còn các đột biến gây ra các kiểu hình dộng kinh nghiêm trọng như hội chứng Dravet điển hình bao gồm các đột biến cắt cụt (đột biến vô nghĩa hay dịch khung đọc mã) làm mất chức năng kênh và các đột biến sai nghĩa làm thay đổi chức năng kênh; các đột biến mất đoạn hoặc đột biến ở vị trí cắt nối thường hiếm thấy hơn.


Kiến thức về nguyên nhân di truyền của bệnh động kinh có thể hướng dẫn cho các lựa chọn điều trị phù hợp nhất cho một số trường hợp nhất định. Nguyên nhân của cơn động kinh có thể ảnh hưởng đến việc lựa chọn thuốc chống động kinh thuốc cho từng bệnh nhân. Gợi ý điều trị cho các bênh nhân có đột biến trên SCN1A là sử dụng các thuốc Valproate, clobazam, Stiripentol, levetiracetam, topiramate.Tránh phenytoin, carbamazepine và lamotrigine.


III.         Bệnh nhân nào cần được xét nghiệm


Bệnh nhân được chuẩn đoán động kinh vô căn nhạy sốt.


IV.         Kỹ thuật

  • Giải trình tự gen SCN1A (exon 1-26)
  • Bệnh phẩm là mẫu máu ngoại vi bảo quản trong ống chống đông EDTA.
  • Thời gian: 22 ngày làm việc.

V.         Tài liệu tham khảo


1.    Nguyễn Văn Chương (2006), Thực hành lâm sàng thần kinh học, Tập 3 (Bệnh học thần kinh), NXB Y học, Hà Nội.

2.    Lê Minh (2002), Ý nghĩa của phân loại quốc tế về động kinh trong thực hành thần kinh học lâm sàng, Y học Tp. Hồ Chí Minh, chuyên đề Động kinh, 6(3).

3.    Lê Văn Thành (2002), Cơ chế bệnh sinh và sinh lý bệnh học của động kinh, Y Học TP. Hồ Chí Minh, Chuyên đề Động kinh, 6(3).

4.    Berg, A.T. et al. (2010), Revised terminology and concepts for organization of seizures and epilepsies: report of the ILAE Commission on Classification and Terminology, 2005-2009, Epilepsia, 51(4), pp.676-685.

5.    Harkin, L.A. McMahon, J.M. Iona, X. Dibbens, L. Pelekanos, J.T. Zuberi, S.M. et al. (2007), The spectrum of SCN1A-related infantile enceptic encephalopathies, Brain, 130 (Pt3), pp.843-852.

6.    Shorvon, S.D. (2011), The etiologic classification of epilepsy, Epilepsia, 52(6), pp.1052–1057.

 

VI. Liên hệ thực hiện xét nghiệm

 

 

 


Chia sẻ :
Các tin khác :