University of Medicine and Pharmacy, HCMC

Center for Molecular Biomedicine

XÉT NGHIỆM ĐỘT BIẾN GEN KRAS, NRAS, VÀ BRAF TRONG UNG THƯ ĐẠI – TRỰC TRÀNG

I.       Mục đích xét nghiệm

Giúp dự đoán được đáp ứng với điều trị kháng thể nhắm trúng đích EGFR trong ung thư đại – trực tràng di căn.

II.      Thông tin chung

Thụ thể yếu tố tăng trưởng biểu mô (EGFR: epidermal growth factor receptor) đóng vai trò chủ chốt trong các con đường tín hiệu tế bào của ung thư đại trực tràng và là đích điều trị của các liệu pháp chống ung thư mới. Hai trong số những thuốc này là các kháng thể đơn dòng cetuximab và panitumumab có khả năng ức chế hoạt động của EGFR. Tuy nhiên, thuốc sẽ không hiệu quả khi trong tế bào ung thư có đột biến các gen hạ nguồn của EGFR, vốn làm cho tế bào hoạt động không còn phụ thuộc vai trò của EGFR. Vì vậy, phát hiện được tình trạng đột biến các gen hạ nguồn của EGFR sẽ giúp dự đoán sự kháng thuốc.

Đột biến từng gen KRAS, NRAS, PIK3CA BRAF đều có thể hoạt hóa con đường tín hiệu hạ nguồn của EGFR để gây kháng thuốc. Mạng lưới Ung thư Quốc gia (NCCN) và Hiệp hội Ung thư học Lâm sàng Mỹ (ASCO) khuyến cáo cần xét nghiệm đột biến gen RAS trước khi chỉ định điều trị chống EGFR ở bệnh nhân ung thư đại – trực tràng di căn; nếu bệnh nhân có đột biến thì nên chọn lựa một hướng điều trị khác. Khi đã loại trừ được đột biến gen RAS, NCCN khuyên nên xét nghiệm thêm đột biến gen BRAF. Tỷ lệ đáp ứng với cetuximab là 24% khi điều trị mà không có thông tin về tình trạng đột biến của 4 gen này, tăng lên 41% nếu cả 4 gen không bị đột biến. Thời gian sống thêm không bệnh (PFS) và thời gian sống thêm toàn bộ (OS) giảm dần khi có 0, 1 hoặc ≥ 2 gen bị đột biến. Như vậy, thông tin đầy đủ về đột biến gen giúp chọn lựa bệnh nhân có nhiều khả năng đáp ứng với thuốc và loại trừ những bệnh nhân không phù hợp với chỉ định thuốc chống ung thư mới này.

III.     Bệnh nhân nào cần được xét nghiệm

Bệnh nhân ung thư đại – trực tràng di căn cần điều trị với cetuximab hoặc panitumumab.

IV.     Kỹ thuật

  •  Giải trình tự gen KRAS (exon 2, 3 và 4), gen NRAS (exon 2, 3 và 4) và gen BRAF (exon 15).
  • Bệnh phẩm là mô sinh thiết/phẫu thuật (mô tươi) hoặc mô vùi nến dùng cho chẩn đoán giải phẫu bệnh.
  • Thời gian: 7 ngày làm việc.

V.      Tài liệu tham khảo

1. De Roock W (2010). Effects of KRAS, BRAF, NRAS, and PIK3CA mutations on the efficacy of cetuximab plus chemotherapy in chemotherapy-refractory metastatic colorectal cancer: a retrospective consortium analysis. Lancet Oncol. 2010 Aug;11(8):753-62.

2. Sartore-Bianchi A (2009). Multi-determinants analysis of molecular alterations for predicting clinical benefit to EGFR-targeted monoclonal antibodies in colorectal cancer. PLoS One. 2009 Oct 2;4(10):e7287.

 

VI.    Liên hệ thực hiện xét nghiệm 


Chia sẻ :
Các tin khác :